
Bài 6: Docker volumes, bind mounts và tmpfs: cách chọn
Chọn nơi lưu dữ liệu, kiểm tra quyền UID/GID và phục hồi thử backup; phân biệt dữ liệu tạm với database cần sao lưu nhất quán theo ứng dụng.
Kho tri thức vận hành hệ thống, Docker, Linux, Web server và Security. Sắp xếp khoa học giúp tra cứu nhanh chóng.

Chọn nơi lưu dữ liệu, kiểm tra quyền UID/GID và phục hồi thử backup; phân biệt dữ liệu tạm với database cần sao lưu nhất quán theo ứng dụng.

Phân biệt tag và digest, save/load với export; chuẩn bị TLS, xác thực và quy trình garbage collection trước khi vận hành private registry.

Tra trạng thái, đọc log, kiểm tra OOM và giới hạn tài nguyên; hiểu tác động của stop, restart và prune trước khi thao tác trên máy production.

Cài Docker Engine từ kho phù hợp, kiểm tra phiên bản và quyền truy cập; phân biệt lưu trữ containerd mới với overlay2 trên máy nâng cấp.

Tách builder khỏi runtime, kiểm tra tương thích libc và native module; giảm thành phần không cần thiết mà không cam kết tỷ lệ dung lượng chưa đo.

Phân biệt mất quorum với complete outage; xác minh fencing, GTID superset và dữ liệu trước force quorum, reboot hoặc clone lại member.

Viết script MySQL Shell có session, mode và lỗi rõ ràng; bắt đầu bằng status, bảo vệ credential, kiểm soát switchover và xác minh backup.

Giám sát InnoDB Cluster bằng trạng thái member, hàng đợi, host và latency ứng dụng; kiểm tra exporter, no-data và runbook trước tự động hóa.

Cấu hình MySQL Router theo route thực tế, phân biệt 6446/6447 với read/write splitting và nghiệm thu failover từ phía ứng dụng.

Tạo InnoDB Cluster từ seed đúng, thêm từng member, chọn clone/incremental và kiểm tra topology trước khi đo failover qua ứng dụng.

Dùng checkInstanceConfiguration để đọc điều kiện và configureInstance để sửa có kiểm soát; tránh tham số cũ, hiểu restart và tác động clone.

Chuẩn bị ba node InnoDB Cluster bằng inventory, phân giải tên, cổng theo communication stack, phiên bản và tài khoản quản trị riêng.